Tính đến thời điểm này, chỉ còn khoảng 01 tuần nữa là đến ngày thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp theo tiêu chí của FTSE Russell, có thể thấy dòng vốn đã bắt đầu gia tăng trên thị trường nhưng chưa thực sự mạnh mẽ.
Trao đổi về vấn đề này trong Talk show Phố Tài chính (The Finance Street Talk show) trên VTV8, các chuyên gia cho rằng, việc nâng hạng mới chỉ là bước đầu tiên, còn những yếu tố như nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, lạm phát và tỷ giá được kiểm soát tốt, môi trường đầu tư minh bạch, thị trường chứng khoán cần tiếp tục cải thiện nhiều yếu tố, trong đó có việc đẩy mạnh chất lượng các doanh nghiệp niêm yết…mới là những yếu tố giúp thu hút được dòng vốn mạnh mẽ và lâu dài vào thị trường.
BTV Mùi Khánh Ly: Nền kinh tế đang trải qua tháng cuối của quý III/2026, các dữ liệu cho thấy nền kinh tế đang tiếp tục đà tăng trưởng như mục tiêu đã đặt. Vậy các ông đánh giá như thế nào về chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế hiện nay?
Ông Nguyễn Quang Đạt, Tổng giám đốc, Công ty CP Chứng khoán An Bình (ABS)
Theo đánh giá của chúng tôi, các con số vĩ mô mới nhất đang tạo nên một bức tranh tích cực. GDP 6 tháng của năm 2026 đạt 8,18%, riêng quý II năm nay đã vượt 8,39% – mức đỉnh trong khoảng 15 - 16 năm qua. Việc IMF nâng dự báo tăng trưởng cả năm của Việt Nam lên 8,2% cũng là một minh chứng rõ nét. Và điểm tôi muốn nhấn mạnh ở đây chính là chiều sâu và tính bền vững của tăng trưởng.
Chúng ta thấy đà bứt phá lan tỏa rất đồng đều khi hơn một nửa số địa phương tăng trưởng trên 8%. Dòng vốn FDI đăng ký vượt 34 tỷ USD, tăng tới 61%, cùng với sự phục hồi ấn tượng của sản xuất chế tạo, xuất khẩu và du lịch với gần 16 triệu lượt khách quốc tế. Thành tố tạo nên sự vững chắc này chính là nền tảng vĩ mô ổn định, quyết tâm cải cách thể chế của Chính phủ khi gỡ vướng cho hàng nghìn dự án tồn đọng, cùng hiệu quả từ việc tinh gọn bộ máy.
Tuy nhiên, tôi cũng nhìn nhận rất thẳng thắn rằng chúng ta vẫn còn phụ thuộc nhiều vào vốn và xuất khẩu, đóng góp của năng suất tổng hợp chưa cao, và khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây là lực lượng nòng cốt của nền kinh tế vẫn đang đối mặt với không ít rào cản về vốn, công nghệ và thị trường.
TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội
Theo tôi, chất lượng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam hiện nay đang cải thiện khá rõ, nhưng chưa thể coi là đã thật sự bền vững. Điểm tích cực trước hết là chúng ta không chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà cơ cấu đóng góp cũng khá rộng. GDP quý II/2026 tăng 8,39%, đưa tăng trưởng 6 tháng lên 8,18%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, dịch vụ tăng 8,09%; hai khu vực này gần như chia đều phần đóng góp vào tăng trưởng. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng chậm hơn đáng kể, đây là tốc độ rất đáng ghi nhận.
Điểm thứ hai, động lực tăng trưởng đang dịch chuyển theo hướng thực chất hơn ở khu vực sản xuất. Tám tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khoảng 11,9%, riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực. Chất lượng tăng trưởng muốn bền vững phải dựa nhiều hơn vào năng lực sản xuất, năng suất, công nghệ và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Cùng với đó, dòng vốn FDI đăng ký đạt trên 40 tỷ USD, vốn thực hiện đạt hơn 17 tỷ USD và phần lớn dòng vốn mới tiếp tục hướng vào công nghiệp chế biến, chế tạo. Điều đó cho thấy niềm tin của nhà đầu tư quốc tế đối với triển vọng của Việt Nam vẫn khá mạnh. Điểm thứ ba là đầu tư công, thị trường trong nước và khu vực dịch vụ tiếp tục tạo lực đỡ.
Tuy nhiên, khi nói đến chất lượng tăng trưởng, chúng ta phải nhìn sâu hơn con số GDP. Một nền kinh tế tăng trưởng tốt phải đồng thời nâng được năng suất lao động, hàm lượng công nghệ, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, sức khỏe doanh nghiệp và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Bên cạnh đó, lạm phát bình quân vẫn cần được theo dõi chặt chẽ. Một bộ phận doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang chịu áp lực đáng kể về chi phí vốn, thị trường, dòng tiền và sức cạnh tranh. Điều đó cho thấy phía sau các chỉ tiêu vĩ mô tích cực vẫn có sự phân hóa giữa các nhóm doanh nghiệp.
Vì vậy, tôi đánh giá tăng trưởng hiện nay là cao hơn, rộng hơn và thực chất hơn, nhưng bước tiếp theo phải là sâu hơn và bền vững hơn.
BTV Mùi Khánh Ly: Trên thế giới ở thời điểm hiện tại, các thị trường toàn cầu đang bước vào một giai đoạn mới với chu kỳ lãi suất cao hơn để kiểm soát lạm phát, chi phí nguồn vốn trở nên đắt đỏ…cùng những yếu tố bất định khác. Theo các ông chu kỳ này ngắn hay dài?
Ông Nguyễn Quang Đạt, Tổng giám đốc, Công ty CP Chứng khoán An Bình (ABS)
Tôi cho rằng chu kỳ lần này hoàn toàn khác biệt so với giai đoạn 2022 - 2023. Khi đó, việc tăng lãi suất diễn ra một chiều nhằm dập tắt cú sốc lạm phát sau COVID19. Còn ở thời điểm hiện tại, thị trường đang chứng kiến sự giằng co hai chiều rất gắt gao. Các ngân hàng trung ương lớn, đặc biệt là Fed, liên tục phải cân nhắc giữa rủi ro lạm phát vẫn dai dẳng và nguy cơ suy giảm tăng trưởng.
Do đó, tôi đánh giá đây là chu kỳ phụ thuộc rất nhiều vào dữ liệu kinh tế thực tế, nó sẽ kéo dài hơn và biến động khó lường hơn thay vì đi theo một đường thẳng tăng rồi giảm. Mặt bằng lãi suất toàn cầu sẽ neo ở mức cao trong một thời gian dài hơn so với kỳ vọng. Điều này đặt ra bài toán cho các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam: phải chủ động hơn nữa trong quản trị tỷ giá, điều hòa dòng vốn và thích ứng với một môi trường mà ở đó "dòng vốn giá rẻ" không còn là điều nghiễm nhiên.
TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội
Lịch sử cho thấy các chu kỳ thắt chặt của Mỹ thường không kéo dài 10 năm liên tục. Giai đoạn 2004 - 2006, Fed nâng lãi suất từ khoảng 1% lên 5,25% trong khoảng hai năm. Giai đoạn 2015 - 2018, Fed nâng dần lãi suất lên vùng 2,25 - 2,5% rồi đảo chiều trong năm 2019. Gần nhất là từ tháng 3/2022 đến tháng 7/2023, Fed tăng rất nhanh từ vùng gần 0% lên 5,25 -5,5%, sau đó duy trì ở mức cao trước khi bước vào quá trình giảm dần.
Nhưng lần này có một số điểm rất khác. Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, thế giới đã trải qua hơn một thập kỷ tiền rẻ, lãi suất rất thấp, thậm chí có thời điểm lãi suất âm tại một số nền kinh tế phát triển. Tôi cho rằng bối cảnh hiện nay không còn thuận lợi để quay lại trạng thái đó một cách dễ dàng.
Lạm phát đã giảm so với đỉnh nhưng chưa hoàn toàn ổn định. Quá trình giảm lạm phát ở nhiều nền kinh tế diễn ra chậm hơn kỳ vọng, trong khi rủi ro giá năng lượng, địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng vẫn tồn tại. Vì vậy, các ngân hàng trung ương khó có thể quay trở lại chính sách tiền tệ siêu lỏng quá nhanh.
Ngoài yếu tố chu kỳ còn có những lực đẩy mang tính cấu trúc làm chi phí vốn có thể cao hơn trước: phân mảnh thương mại và tái cấu trúc chuỗi cung ứng; chi phí chuyển đổi năng lượng; nợ công cao; chi tiêu quốc phòng gia tăng; nhu cầu vốn rất lớn cho hạ tầng số, AI và bán dẫn; cùng với rủi ro địa chính trị làm phần bù rủi ro tăng lên.
Vì vậy, tôi cho rằng kịch bản hợp lý hơn trong những năm tới là: lãi suất có thể giảm dần, nhưng tiền sẽ không còn rẻ như trước.
Đối với Việt Nam, điều này rất quan trọng. Khi lãi suất quốc tế còn cao, tài sản bằng USD vẫn hấp dẫn, các nền kinh tế mới nổi phải cạnh tranh mạnh hơn để thu hút và giữ dòng vốn. Điều đó có thể tạo thêm sức ép lên tỷ giá, mặt bằng lãi suất trong nước và chi phí huy động vốn của doanh nghiệp.
Với doanh nghiệp và thị trường chứng khoán, bài toán lớn nhất vì vậy không phải là cố đoán chính xác lãi suất sẽ giảm vào tháng nào, mà phải nâng chất lượng tài sản, hiệu quả sử dụng vốn và sức khỏe bảng cân đối kế toán để vẫn tăng trưởng được trong một thế giới mà đồng vốn ngày càng đắt hơn và chọn lọc hơn.
BTV Mùi Khánh Ly: Trong bối cảnh thị trường toàn cầu có những khó khăn và bất định như vậy có làm ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế ở trong nước không, thưa hai ông?
Ông Nguyễn Quang Đạt, Tổng giám đốc, Công ty CP Chứng khoán An Bình (ABS)
Theo tôi, việc này sẽ có ảnh hưởng, nhưng tôi đánh giá tác động này mang tính hai mặt. Ở mặt thách thức, mặt bằng lãi suất trong nước không còn thấp, hệ số cho vay trên huy động của hệ thống ngân hàng ở mức cao khiến chi phí vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành cần vốn dài hạn như bất động sản hay hạ tầng sẽ trở nên đắt đỏ hơn, ảnh hưởng đến tiến độ và biên lợi nhuận. Tuy nhiên, tôi thấy Chính phủ đã có những phản ứng chính sách rất kịp thời và chủ động. Về cung vốn, chúng ta đang hoàn thiện khung pháp lý cho cơ chế giao dịch không cần ký quỹ trước đối với nhà đầu tư tổ chức nước ngoài và điều hành tỷ giá linh hoạt. Về đầu tư công, việc xử lý dứt điểm hơn 2.600 dự án tồn đọng tính đến hết tháng 8 đã giải phóng nguồn lực rất lớn để bù đắp cho tín dụng ngân hàng.
Tôi cho rằng việc Chính phủ phối hợp linh hoạt giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, ưu tiên ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm bảo thanh khoản cho các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thiết yếu, chấp nhận một mặt bằng lãi suất hợp lý để giữ vững ổn định vĩ mô, chính là hướng đi phù hợp được các dòng vốn ngoại, đặc biệt là vốn chủ động đánh giá rất cao.
TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội
Theo tôi, chắc chắn những biến động của kinh tế và thị trường tài chính toàn cầu sẽ tác động đến chất lượng tăng trưởng của Việt Nam, bởi chúng ta là một nền kinh tế có độ mở rất lớn, tham gia sâu vào thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng quốc tế. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng tác động đó không hoàn toàn theo một chiều tiêu cực. Trong một thế giới nhiều bất định, quốc gia nào duy trì được ổn định vĩ mô, kiểm soát được lạm phát, tỷ giá, bảo đảm được môi trường đầu tư và nâng được sức cạnh tranh thì thậm chí còn có thể chuyển dịch dòng vốn, đơn hàng và chuỗi cung ứng về phía mình.
Theo đánh giá của tôi, có ít nhất ba kênh tác động rất rõ. Kênh thứ nhất là thương mại và cầu bên ngoài. Kênh thứ hai là tỷ giá và dòng vốn. Kênh thứ ba là chi phí vốn, đây là một yếu tố rất quan trọng. Thực tế Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang rất quyết liệt yêu cầu hệ thống ngân hàng tiết giảm chi phí và giảm lãi suất, đồng thời triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực động lực tăng trưởng.
BTV Mùi Khánh Ly: Vậy theo hai ông, cần có những giải pháp như thế nào để nâng cao chất lượng tăng trưởng cho nền kinh tế?
Ông Nguyễn Quang Đạt, Tổng giám đốc, Công ty CP Chứng khoán An Bình (ABS)
Theo tôi, chúng ta cần tạo ra bước chuyển thực chất ở ba điểm nghẽn chính.
Thứ nhất là "sức khỏe" của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ. Không thể chỉ dựa mãi vào tín dụng ngân hàng truyền thống, mà phải mở rộng các kênh vốn thay thế: phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch hơn, thúc đẩy doanh nghiệp niêm yết trên Upcom và tiếp cận quỹ đầu tư mạo hiểm.
Thứ hai là bài toán chi phí vốn. Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất khó giảm sâu do áp lực bên ngoài, giải pháp không phải là hạ lãi suất đại trà. Tôi cho rằng cần nắn dòng tín dụng có chọn lọc vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao như công nghệ cao, chế biến chế tạo, năng lượng tái tạo, đồng thời kích hoạt mạnh mẽ cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ ba, động lực trung hạn then chốt chính là nâng cao năng suất thông qua chuyển đổi số, quyết liệt cắt giảm thủ tục hành chính để hạ chi phí tuân thủ, và đẩy nhanh giải ngân đầu tư công vào các hạ tầng chiến lược như cao tốc, cảng biển, hạ tầng số.
Và cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh một thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh sẽ là "mạch máu" dẫn vốn trung dài hạn bền vững, giải tỏa gánh nặng cho hệ thống ngân hàng. Đây cũng chính là lý do vì sao câu chuyện nâng hạng thị trường lần này có ý nghĩa không chỉ với riêng ngành chứng khoán mà với cả chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.
TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội
Theo tôi, để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, điều quan trọng nhất là chúng ta phải thống nhất một quan điểm: không thể đạt tăng trưởng hai con số bền vững chỉ bằng cách bơm thêm vốn, tăng đầu tư hoặc mở rộng tín dụng. Mục tiêu tăng trưởng cao phải đồng thời gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo tôi, chính sách trong giai đoạn tới cần giải quyết đồng thời năm bài toán: vốn, năng suất, doanh nghiệp, thể chế và thị trường.
Trước hết, chúng ta phải tiếp tục giữ ổn định kinh tế vĩ mô làm nền tảng. Thứ hai là nâng cao năng suất của khu vực doanh nghiệp. Thứ ba, phải tạo một cuộc cải cách thực chất về môi trường kinh doanh và thể chế. Thứ tư là phát triển thị trường vốn theo chiều sâu. Cuối cùng, phải tăng mạnh khả năng liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với khu vực FDI và chuỗi giá trị toàn cầu.
Nếu làm được những việc này thì tăng trưởng 10% sẽ không còn đơn thuần là kết quả của việc đưa thêm vốn vào nền kinh tế, mà là kết quả của việc nền kinh tế sử dụng vốn thông minh hơn, lao động hiệu quả hơn và doanh nghiệp có năng suất cao hơn.
BTV Mùi Khánh Ly: Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán sẽ được nâng hạng vào tuần tới như công bố của FTSE trước đó, cộng với những yếu tố về tăng trưởng kinh tế hiện tại, theo ông, dòng vốn vào thị trường lần này sẽ tạo ra cú hích mạnh cho thị trường chứng khoán Việt Nam không, thưa các ông?
Ông Nguyễn Quang Đạt, Tổng giám đốc, Công ty CP Chứng khoán An Bình (ABS)
Tôi đánh giá đây là một sự kiện mang tính bước ngoặt, nhưng chúng ta cần nhìn nhận đúng bản chất để tránh kỳ vọng quá mức trong ngắn hạn. Theo lộ trình, việc phân bổ cổ phiếu Việt Nam vào các rổ chỉ số FTSE bắt đầu từ ngày 21/9 với tỷ trọng ban đầu 10% và hoàn tất 100% sau một năm.
Dòng vốn ngoại ròng ước tính đạt 6 - 8 tỷ USD, kịch bản lạc quan vượt 10 tỷ USD, nhưng đây là số vốn giải ngân rải rác theo thời gian. Tôi muốn lưu ý rằng dòng vốn thụ động theo chỉ số quy mô không lớn bằng dòng vốn chủ động của các quỹ toàn cầu, đây vốn là những nhà đầu tư chỉ giải ngân dựa trên chất lượng tăng trưởng thực sự của nền kinh tế và doanh nghiệp.
Để tạo cú hích bền vững, tôi cho rằng chúng ta cần làm tốt ba việc. Đầu tiên là tiếp tục cải thiện thanh khoản và đưa thêm hàng hóa chất lượng lên sàn; thứ hai là nâng chuẩn minh bạch thông tin và quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế; thứ ba là hoàn thiện hạ tầng giao dịch và phát triển các sản phẩm tài chính mới. Đây cũng là bước đệm thiết yếu để chúng ta hướng tới mục tiêu xa hơn là được MSCI xem xét nâng hạng lên thị trường mới nổi.
TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội
Theo tôi, việc Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp chắc chắn sẽ tạo ra một cú hích rất quan trọng cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhưng chúng ta cần hiểu đúng: đây không chỉ là cú hích về dòng tiền trong một vài phiên giao dịch mà quan trọng hơn là một cú hích về vị thế, chất lượng thị trường và khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế trong nhiều năm tới.
Vì vậy, theo tôi, không nên đo thành công của nâng hạng bằng số tiền vào thị trường trong một tuần hay một tháng. Điều lớn hơn nằm ở ba tác động.
Thứ nhất, nâng hạng mở ra một cánh cửa vốn hoàn toàn mới cho Việt Nam. Khi còn là thị trường cận biên, Việt Nam nằm ngoài phạm vi đầu tư hoặc bị giới hạn tỷ trọng đối với rất nhiều quỹ đầu tư toàn cầu. Khi trở thành thị trường mới nổi, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong hệ thống benchmark, mô hình phân bổ tài sản và danh mục theo dõi của một tập hợp nhà đầu tư lớn hơn nhiều. Dòng vốn đáng quan tâm nhất, theo tôi, không phải chỉ là dòng vốn ETF thụ động bắt buộc mua theo chỉ số mà chính là dòng vốn chủ động.
Thứ hai, Việt Nam bước vào thời điểm nâng hạng với một nền tảng kinh tế tương đối thuận lợi. Thứ ba, nâng hạng sẽ tạo áp lực tích cực để bản thân thị trường chứng khoán Việt Nam phải nâng chất lượng. Khi có nhiều nhà đầu tư tổ chức quốc tế tham gia, yêu cầu đối với công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán, thanh khoản, bảo vệ cổ đông thiểu số và khả năng tiếp cận thị trường cũng cao hơn. Tôi cho rằng đây mới là lợi ích rất lớn.
Chúng ta không nên chỉ mong tiền ngoại vào nhiều hơn, mà phải hướng đến một thị trường mà tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức cao hơn, đầu tư dài hạn nhiều hơn và hành vi đầu cơ ngắn hạn giảm dần.
Vì vậy, theo tôi, điều quan trọng nhất sau ngày 21/9 là phải biến nâng hạng kỹ thuật thành nâng hạng thực chất. Và xa hơn nữa, sau FTSE, Việt Nam cần đặt mục tiêu tiến tới nâng hạng lên Emerging Markets theo tiêu chí của MSCI, bởi đây sẽ là một nấc thang lớn hơn về quy mô tài sản toàn cầu có thể tiếp cận.
BTV Mùi Khánh Ly: Xin cảm ơn hai ông về những thông tin vừa rồi!




