Tháng 4/2026, một nhà máy sản xuất BESS - pin lưu trữ năng lượng có công suất thiết kế 5 GWh/năm vừa đi vào hoạt động tại Hưng Yên. BESS có thể hình dung như những "cục pin khổng lồ", từ dạng tủ đến container, có khả năng tích điện khi dư thừa và cung cấp trở lại khi cần thiết. Chúng có thể giúp hộ gia đình sử dụng điện mặt trời vào ban đêm, doanh nghiệp giảm chi phí điện hoặc hỗ trợ ổn định hệ thống điện quốc gia.
Để so sánh, tại Malaysia, một tên tuổi lớn là SynVista Energy - doanh nghiệp có trụ sở tại Singapore - đang phát triển nhà máy sản xuất hệ thống lưu trữ với mục tiêu 5 GWh/năm.
Điều đặc biệt nằm ở chỗ, đứng sau nhà máy ở Việt Nam không phải một tập đoàn công nghiệp lâu đời, mà là GG Power - một doanh nghiệp mới 2 năm tuổi, được sáng lập bởi nhóm những cựu lãnh đạo tại VinFast. Họ xây dựng nhà máy chỉ trong 9 tháng, tìm được hợp đồng hàng triệu USD từ Ấn Độ trước khi nhà máy khánh thành và phát triển đội ngũ lên gần 200 người.
Tuy nhiên, nhà máy mới sản xuất ở mức khoảng 10% công suất thiết kế. Bài toán của GG Power trong những năm tiếp theo là tìm đủ khách hàng để khai thác một cơ sở sản xuất có quy mô lớn như vậy, trong khi thị trường pin lưu trữ Việt Nam vẫn đang hình thành.
Ông Bùi Xuân Bình, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc GG Power đã chia sẻ về những vấn đề này trong cuộc trò chuyện với chúng tôi.

GG Power mới thành lập chưa đầy hai năm. Vì sao các ông chọn ngay một nhà máy công suất 5 GWh/năm thay vì bắt đầu từ quy mô nhỏ hơn?
Ông Bùi Xuân Bình: GG Power là doanh nghiệp 2 năm tuổi, nhưng đội ngũ sáng lập và ban lãnh đạo đã có kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vực công nghiệp và sản xuất pin. Cá nhân tôi tham gia làm pin từ năm 2013, sau đó có cơ hội làm việc với những sản phẩm pin điện áp cao tại VinFast.
Từng trải qua những dự án lớn ở VinFast nên khi khởi nghiệp, chúng tôi không muốn đặt ra một mục tiêu quá nhỏ. Thay vì làm từng bước nhỏ và chậm, chúng tôi quyết định đầu tư một nhà máy có công suất thiết kế 5 GWh/năm để chuẩn bị cho thị trường dài hạn. Quy mô ấy cũng tạo ra áp lực cần thiết để cả đội ngũ phải tìm cách khai thác công suất trong thời gian ngắn.
Tất nhiên, đặt mục tiêu thì dễ hơn nhiều so với làm. Khó khăn lớn nhất của chúng tôi lúc đầu là thu xếp vốn và tổ chức xây dựng nhà máy. Một startup phải tự lo đất đai, tự đầu tư xây dựng trong khi các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực mới còn hạn chế.
Thời điểm chúng tôi xây dựng, nhiều dự án bất động sản và hạ tầng lớn cùng triển khai nên việc huy động nhà thầu, nhân lực gặp rất nhiều khó khăn. Tổng thầu của chúng tôi có thời điểm gần như vỡ trận.
"Vỡ trận" là sao, thưa ông?
Lúc chúng tôi chuẩn bị phải đưa thiết bị về lắp, nhà xưởng vẫn chưa xong mái, kết cấu thép ở tầng hai còn dang dở, nền bê tông, đường nội bộ và hệ thống điện cũng chưa hoàn thiện.
Tôi quyết định tách những phần việc còn lại ra khỏi gói thầu chính, trực tiếp tìm từng đội làm kết cấu thép, lợp mái, bao che nhà xưởng, làm đường, lắp điện. Có những đội chúng tôi phải trả tiền theo ngày để họ tập trung làm cho xong. Tức là mình tự làm tổng thầu luôn. Tôi đứng ra làm tổng chỉ huy công trường, còn các anh em quản lý từng hạng mục, theo sát tiến độ, an toàn và chất lượng.
Cuối cùng, chúng tôi hoàn thành xây dựng nhà máy trong 9 tháng. Cùng thời điểm đó, có những nhà máy khác trong khu công nghiệp cần 12–14 tháng, thậm chí 16 tháng để xây dựng. Kinh nghiệm tổ chức các dự án nhà máy trước đây tại VinFast đã giúp tôi rất nhiều.
Đang ở một tập đoàn lớn, điều gì khiến ông và các cộng sự muốn ra ngoài?
Chúng tôi thuộc nhóm những người tham gia VinFast từ giai đoạn đầu. Hơn 7 năm làm xe điện khiến tôi nghĩ nhiều đến câu chuyện phía sau chiếc xe. Một chiếc xe điện có thể là sản phẩm sạch khi sử dụng, nhưng để sử dụng nguồn năng lượng sạch thì lại phải giải tiếp bài toán về điện. Điện gió và điện mặt trời phụ thuộc thời tiết. Sản lượng có lúc dư, lúc thiếu. Nếu không có giải pháp lưu trữ, việc đưa ngày càng nhiều nguồn điện như thế vào hệ thống sẽ đặt ra những khó khăn mới.

Chúng tôi đặt ra ba câu hỏi trước khi lựa chọn lĩnh vực khởi nghiệp. Thứ nhất, đó có phải là một bài toán đủ lớn, có tác động đến xã hội và nền kinh tế không? Thứ hai, chúng tôi có kinh nghiệm, năng lực để tham gia giải quyết không? Và thứ ba, thị trường có đủ lớn để hình thành một ngành công nghiệp, giúp doanh nghiệp Việt Nam có vị thế quốc tế hay không?
Chúng tôi nhận thấy hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin, hay BESS, đáp ứng được những tiêu chí ấy. Vì vậy, ba anh em sáng lập quyết định tập hợp lại để phát triển GG Power.
Tiền đâu để ba người bắt đầu một dự án như thế?
Rất đơn giản thôi, bao nhiêu năm tích lũy chúng tôi mang ra đầu tư hết. Các anh em sáng lập đều đã đi làm nhiều năm ở những doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp công nghiệp và VinFast. Đến lúc quyết định làm việc riêng, chúng tôi dùng những gì mình đã tích lũy, cả về tiền bạc lẫn kinh nghiệm, để bắt đầu.
Nhưng đầu tư công nghiệp thì vốn của các cá nhân không thể đáp ứng hết. Chúng tôi đã làm việc với các ngân hàng để nhận tài trợ vốn xây dựng nhà máy, mua dây chuyền, thiết bị cũng như một phần vốn nhập linh kiện để sản xuất.
Con người cũng là một khoản đầu tư lớn. Chúng tôi có những anh em từng giữ vị trí tốt ở các tập đoàn, được đào tạo và làm việc ở nước ngoài, nhưng khi về GG Power có người chỉ nhận mức lương bằng khoảng 1/10 nơi cũ. Những người ấy tham gia vì họ muốn cùng xây dựng một doanh nghiệp có năng lực sản xuất và công nghệ của Việt Nam trong lĩnh vực này.

Một chi tiết khá bất ngờ là GG Power có hợp đồng quốc tế từ rất sớm, trước cả khi nhà máy Hưng Yên khánh thành. Khách hàng đầu tiên đến từ đâu?
Hợp đồng đầu tiên của chúng tôi đến từ Ấn Độ, trị giá hàng triệu USD. Khi còn làm ở VinFast, chúng tôi có nhiều đồng nghiệp và mối quan hệ ở thị trường quốc tế. Một đồng nghiệp cũ sau đó chuyển sang làm trong ngành BESS tại Ấn Độ. Từ kết nối ấy, chúng tôi có cơ hội trao đổi với khách hàng bên đó.
Ấn Độ là một thị trường lưu trữ rất lớn và khi ấy đối tác đang có nhu cầu về thiết kế, công nghệ. Chúng tôi bắt đầu bằng việc cung cấp dịch vụ thiết kế hệ thống BESS và linh kiện để họ có thể đưa về lắp ráp, hoàn thiện sản phẩm tại Ấn Độ. Nghĩa là hợp đồng đầu tiên không phải bán nguyên một container pin hoàn chỉnh từ nhà máy Việt Nam sang, mà bán phần công việc chúng tôi có thể làm được lúc đó.
Từ hợp đồng ban đầu, hai bên tiếp tục mở rộng hợp tác. Khi có nhà máy ở Hưng Yên, chúng tôi dự kiến cung cấp cả những bộ pin do GG Power thiết kế, tổ chức sản xuất tại Việt Nam để đối tác tích hợp thành hệ thống container. Giá trị mà chúng tôi kỳ vọng khai thác từ khách hàng này trong năm nay và những năm tiếp theo khoảng 20 triệu USD.
Hợp đồng đầu tiên với khách hàng Ấn Độ là cung cấp dịch vụ thiết kế BESS. Vậy nền tảng công nghệ ban đầu của GG Power đến từ đâu?
Chúng tôi là không làm mọi thứ từ con số 0. Trên thế giới đã có những tập đoàn đầu tư rất lớn vào sản xuất cell và hệ thống lưu trữ, sản phẩm của họ đã được sử dụng và kiểm chứng trên thị trường. Chúng tôi lựa chọn hợp tác với họ để bắt đầu từ số 1, rồi phát triển năng lực của mình trên nền tảng đó.

Cách hợp tác này không đơn thuần là nhập sản phẩm về bán. GG Power phải trả phí chuyển giao công nghệ để tiếp nhận thiết kế, dữ liệu liên quan đến sản phẩm và trả thêm phí bản quyền theo từng sản phẩm. Chúng tôi hướng đến hình thức chuyển giao toàn diện, gọi là white box, để đội ngũ kỹ thuật có thể hiểu thiết kế, điều chỉnh cho phù hợp nhu cầu từng thị trường, chuyển bản vẽ cho các nhà cung ứng và tổ chức sản xuất. Phần hoàn thiện, thử nghiệm và kiểm tra trước khi đưa sản phẩm ra thị trường vẫn là công đoạn mà chúng tôi đặc biệt coi trọng.
Tuy vậy, nhận chuyển giao công nghệ không có nghĩa ngay hôm nay GG Power đã tự làm được tất cả. Với các hệ thống lớn, chúng tôi vẫn hợp tác với các đối tác công nghệ như Goldwind và Cornex. Mục tiêu là từng bước tăng phần việc do đội ngũ trong nước chủ động thực hiện, chứ không nói rằng mình đã sở hữu toàn bộ công nghệ lõi.
Hiện GG Power tự làm được những gì trong một hệ thống pin, còn phải mua từ bên ngoài những gì?
Cell pin và một số linh kiện, thiết bị hiện chúng tôi vẫn phải mua từ các nhà cung cấp quốc tế. Nhưng một hệ thống BESS không chỉ có cell. Muốn sử dụng được phần điện năng lưu trữ ấy, cần bộ pin, kết cấu cơ khí, hệ thống điện, các thiết bị tích hợp và phần mềm quản lý, điều khiển. Đó là những phần mà GG Power đang xây dựng năng lực thiết kế, lựa chọn linh kiện, tổ chức sản xuất và kiểm thử tại Việt Nam.
Với sản phẩm lưu trữ hộ gia đình đã thương mại hóa, chúng tôi có 20 nhà cung ứng trong nước trực tiếp sản xuất linh kiện. Kế hoạch đến hết năm 2027 là phát triển ít nhất 50 nhà cung ứng tham gia, từ linh kiện cơ khí, điện, điện tử cho đến phần mềm. Tôi muốn khi nhà máy làm những sản phẩm lớn hơn, như tủ lưu trữ hay container, chuỗi cung ứng trong nước cũng có thể đi cùng.
Điều tôi lo nhất không hẳn là các nhà cung ứng Việt Nam không gia công được, mà là nhiều doanh nghiệp chưa có đội ngũ nghiên cứu và phát triển đủ sâu để tự thiết kế linh kiện. Nếu chúng tôi chỉ đưa bản vẽ và họ làm theo mãi, chuỗi cung ứng sẽ khó tiến lên.
Vì vậy, GG Power muốn hỗ trợ họ phát triển cả năng lực R&D, để sau này họ không chỉ bán hàng cho chúng tôi mà có thể cung cấp cho những thương hiệu khác trên thế giới. Còn với cell pin, trong ba đến năm năm tới chúng tôi vẫn tập trung vào thiết kế, tích hợp. Sau năm 2030 mới có tham vọng tham gia sản xuất những thế hệ cell mới.

Nhà máy hiện mới sản xuất ở mức khoảng 10% công suất thiết kế. Bài toán cho phần công suất còn lại được công ty tính thế nào?
Công suất thiết kế 5 GWh/năm tương đương khả năng sản xuất các hệ thống pin có tổng dung lượng lưu trữ 5 triệu kWh mỗi năm. Đây là quy mô lớn đối với một doanh nghiệp còn non trẻ như chúng tôi.
Tuy nhiên, hiện GG Power mới bắt đầu sản xuất ở mức khoảng 10% công suất thiết kế. Chúng tôi đặt mục tiêu nâng lên 20–30% trong những năm tới, trên cơ sở các khách hàng đang ở giai đoạn đàm phán thương mại cuối cùng, và kỳ vọng đạt khoảng 80% vào năm 2029.
Áp lực tài chính là có thật. Chỉ riêng việc mở rộng từ ba người sáng lập lên gần 200 nhân sự đã khiến chi phí cố định hàng tháng tăng rất lớn. Với một doanh nghiệp vừa xây nhà máy vừa phát triển thị trường, những năm đầu không lỗ đã là may rồi.
Nhưng chúng tôi lựa chọn đầu tư năng lực sản xuất lớn ngay từ đầu để đón đầu thị trường, đồng thời tạo áp lực cho cả đội ngũ phải tìm kiếm đơn hàng và khai thác công suất nhà máy.
Trong lúc chờ các dự án lưu trữ quy mô lớn, khách hàng nào đang mang lại doanh thu cho GG Power?
Trong giai đoạn 2026–2027, lưu trữ điện cho hộ gia đình sẽ là sản phẩm chủ lực, tạo nguồn doanh thu để nuôi những kế hoạch dài hạn. Chúng tôi gọi đây là chiến lược lấy ngắn nuôi dài.
Hiện một bộ pin lưu trữ dung lượng khoảng 16 kWh có giá 45–50 triệu đồng. Theo tính toán của chúng tôi, với điều kiện sử dụng phù hợp, khách hàng ở miền Nam có thể hoàn vốn trong dưới 3,5 năm, còn miền Bắc khoảng 5 năm hoặc hơn do số giờ nắng ít hơn.
Ngoài hộ gia đình, chúng tôi cũng cung cấp giải pháp cho trung tâm thương mại, khách sạn, kho lạnh, khu công nghiệp và trạm sạc xe điện. Riêng năm vừa qua, GG Power đã triển khai khoảng 19 dự án liên quan đến trạm sạc kết hợp pin lưu trữ và điện mặt trời.
Chúng tôi kỳ vọng từ năm 2028, các sản phẩm phục vụ công nghiệp, thương mại và lưới điện sẽ đóng góp tỷ trọng doanh thu lớn hơn.

Trong nước có VinES, ngoài thị trường là các nhà sản xuất lớn của Trung Quốc. GG Power định cạnh tranh bằng gì?
Tôi từng tham gia xây dựng VinES trong giai đoạn đầu nên hiểu khá rõ họ có nguồn lực như thế nào. Về con người, vốn, cơ sở hạ tầng, GG Power không thể so sánh được. Vì vậy, chúng tôi không chọn cách lao vào đúng những phân khúc mà doanh nghiệp lớn đang có lợi thế, mà phải tìm sản phẩm và mô hình kinh doanh phù hợp với khả năng của mình.
Chẳng hạn, GG Power tập trung vào sản phẩm dân dụng, các hệ thống dạng tủ cho khách hàng thương mại và công nghiệp. Ở phân khúc container lưu trữ, chúng tôi phát triển sản phẩm dung lượng 6,26 MWh để hướng tới thị trường xuất khẩu. Đây là cách chúng tôi tạo sự khác biệt về sản phẩm, dù cùng hoạt động trong một ngành.
Với các doanh nghiệp Trung Quốc, lợi thế sản xuất quy mô lớn của họ là điều không thể phủ nhận, nhất là khi thị trường Việt Nam ở rất gần. Chúng tôi phải tìm lợi thế ở khả năng thiết kế giải pháp phù hợp với nhu cầu từng khách hàng, tốc độ phản hồi, bảo hành, bảo dưỡng và chuỗi cung ứng tại chỗ. Tôi không nghĩ chỉ có giá bán thiết bị là đủ để quyết định một khách hàng lựa chọn BESS của ai.
Nếu Việt Nam tăng nhanh điện gió, điện mặt trời mà thiếu hệ thống lưu trữ, điều gì sẽ xảy ra với lưới điện?
Để phát triển kinh tế, chúng ta không chỉ cần có đủ điện mà nguồn điện còn phải ổn định. Đây là vấn đề rất quan trọng khi Việt Nam tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo.
Điện gió, điện mặt trời phụ thuộc vào thời tiết. Chẳng hạn, một khu vực đang có nắng nhưng khi mây che phủ, sản lượng điện mặt trời có thể sụt giảm nhanh. Hệ thống pin lưu trữ có thể hỗ trợ bù đắp sự biến động đó, thực hiện các chức năng điều tần, điều áp và dịch chuyển năng lượng giữa các thời điểm.
BESS có thể tích điện ở thời điểm thích hợp và phát trở lại khi cần, đồng thời hỗ trợ các chức năng điều tần, điều áp và chuyển dịch năng lượng. Đối với một số nhà máy công nghệ cao, nhất là sản xuất chip, nguồn điện mất ổn định có thể khiến dây chuyền phải dừng, mất thời gian khởi động lại và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Vì thế, tôi nhìn lưu trữ không chỉ như một sản phẩm để hộ gia đình giảm hóa đơn tiền điện, mà còn là một trong những công cụ kỹ thuật quan trọng để hệ thống điện vận hành ổn định hơn.
Ông còn nói đến rủi ro về quyền điều khiển hệ thống. Điều gì khiến ông quan tâm đến chuyện này?
Tôi đã có trải nghiệm với những thiết bị nhập khẩu mà bên sử dụng phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống điều khiển của nhà cung cấp. Có lúc thiết bị đang hoạt động bình thường bỗng ngừng, trong khi chúng tôi không thực sự chủ động kiểm soát được và phải mất nhiều thời gian làm việc với đối tác nước ngoài để tìm hiểu nguyên nhân. Đó là một trải nghiệm khiến tôi nghĩ nhiều về việc ai nắm quyền quản lý phần mềm, ai có thể cập nhật, sửa chữa hay hỗ trợ thiết bị sau khi đã bán ra.
Nếu một hệ thống lưu trữ chỉ đặt trong một cơ sở nhỏ thì câu chuyện đã cần được quan tâm; khi những hệ thống ấy tham gia với quy mô lớn vào lưới điện, mức độ phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài càng phải được tính toán.
Đó là lý do GG Power muốn từng bước làm chủ không chỉ phần cứng mà cả phần mềm quản lý, điều khiển và bảo mật của hệ thống lưu trữ. Đây là mục tiêu dài hạn, cần thêm thời gian và đầu tư công nghệ.
Cảm ơn ông về những chia sẻ này!




