Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, dữ liệu khoa học và kỹ thuật đang được nhìn nhận như một nguồn lực mới của nền kinh tế số.
Chiến lược Dữ liệu Quốc gia vừa được Thủ tướng ban hành đặt ra nhiều mục tiêu liên quan đến phát triển nguồn nhân lực dữ liệu. Đến năm 2030, chương trình hướng tới đào tạo, bồi dưỡng tối thiểu 50.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức có năng lực quản trị, phân tích và khai thác dữ liệu theo Khung đào tạo quản trị dữ liệu cấp quốc gia. Khoảng 300.000 lượt người lao động trong doanh nghiệp sẽ được đào tạo kỹ năng dữ liệu, phân tích dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Việt Nam cũng đặt mục tiêu hình thành tối thiểu 5.000 chuyên gia dữ liệu nòng cốt trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và tổ chức khoa học, công nghệ, cùng hơn 50 cơ sở giáo dục đại học đào tạo các ngành liên quan đến khoa học dữ liệu, quản trị dữ liệu, AI, điện toán hiệu năng cao và an ninh dữ liệu.

Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga, ban chủ trì Hội thảo Chiến lược dữ liệu Quốc gia, Bộ Công an (đứng giữa). Nguồn ảnh: Viện Quản trị Chính sách & Chiến lược Phát triển
Ở cấp ngành, Chiến lược Dữ liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ đến năm 2030 đặt mục tiêu số hóa toàn bộ hồ sơ, dữ liệu hành chính, thay thế hình thức lưu trữ giấy. Các dịch vụ công trực tuyến được định hướng cung cấp toàn trình, qua đó cho phép người dân và doanh nghiệp thực hiện thủ tục trên môi trường số.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, dữ liệu khoa học và công nghệ được xác định là một loại tài sản có giá trị, hình thành nền tảng tri thức số phục vụ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số. Điều này cũng đặt ra yêu cầu không chỉ số hóa dữ liệu, mà còn phải tổ chức, kết nối và khai thác dữ liệu để tạo ra giá trị mới.
Theo Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga, trong nhiều thập niên, hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng tập trung vào việc sử dụng dữ liệu và bằng chứng khoa học nhằm nâng cao chất lượng quyết định công. Sự phát triển của dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đang mở rộng đáng kể khả năng này khi dữ liệu có thể được thu thập ở quy mô lớn hơn, cập nhật nhanh hơn và phân tích bằng những công cụ có khả năng nhận diện các mối quan hệ phức tạp mà phương pháp truyền thống khó phát hiện.
Từ cách tiếp cận này, Viện Quản trị Chính sách và Bộ Công an đã thúc đẩy cấu trúc Vòng tròn Chính sách, hướng tới phát triển hệ sinh thái dữ liệu khoa học và kỹ thuật phục vụ quá trình xây dựng Chiến lược Dữ liệu Quốc gia.

Viện trưởng Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển Lê Nguyễn Thiên Nga gặp CEO Jensen Huang tại chương trình làm việc cùng NVIDIA, California, Hoa Kỳ. Nguồn ảnh: Viện Quản trị Chính sách & Chiến lược Phát triển
Trên thế giới, dữ liệu đang trở thành một phần của hạ tầng kinh tế số, AI và đổi mới sáng tạo. Xu hướng cũng đang chuyển từ số hóa, lưu trữ dữ liệu sang kết nối, phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định.
Tại Việt Nam, nghiên cứu “Dữ liệu Khoa học và Kỹ thuật trong Kỷ nguyên phát triển bền vững” của Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển đưa ra một ví dụ về khả năng dữ liệu tác động tới quyết định tài chính thông qua việc VietinBank triển khai khoản vay liên kết bền vững trong năm 2026. Trong quản trị và vận hành, Trợ lý AI đã phục vụ hơn 5.600 cán bộ, xử lý trên 84.000 yêu cầu; nền tảng MyGenie có hơn 1.100 AI Agent sau 5 tháng vận hành.
Là một trong những ngân hàng thương mại chủ lực của nền kinh tế, VietinBank xác định phát triển bền vững không chỉ là xu hướng mà còn là một trong các trọng tâm xuyên suốt. Trong những năm qua, ngân hàng đã chủ động ban hành Khung Tài chính Bền vững, triển khai các gói tín dụng xanh, tài trợ cho các lĩnh vực năng lượng tái tạo, sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn… đồng thời tăng cường hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế nhằm gia tăng tiếp cận nguồn vốn dài hạn và kinh nghiệm quốc tế. Trong năm 2025, quy mô dư nợ tín dụng xanh của VietinBank đã đạt gần 53.000 tỉ đồng.
Điểm khác biệt trong cách tiếp cận ESG của VietinBank là việc đưa ESG trở thành một phần của kế hoạch trung và dài hạn, gắn trực tiếp với hoạt động kinh doanh, quản trị rủi ro và tăng trưởng. Các thông điệp, mục tiêu và cam kết phát triển bền vững được ngân hàng công bố công khai, minh bạch, thể hiện định hướng rõ ràng. Trong đó, Khung Tài chính Bền vững là nền tảng cốt lõi cho hoạt động tài trợ và quản lý các khoản tài chính xanh của ngân hàng. Khung này đã được Morningstar Sustainalytics đánh giá là “đáng tin cậy và có tác động lớn”, qua đó khẳng định mức độ nghiêm túc và chuẩn mực trong tiếp cận ESG của VietinBank.
Ông Trần Hoài Nam, Phó giám đốc Khối KHDN VietinBank nhấn mạnh SLL là một công cụ tài chính bền vững linh hoạt, giúp gắn trực tiếp hiệu quả tài chính với kết quả thực hiện các mục tiêu ESG của doanh nghiệp.
Từ góc độ rộng hơn, nghiên cứu đặt ra khả năng ngân hàng trở thành một nút dữ liệu quan trọng trong nền kinh tế xanh. Khi dữ liệu về năng lượng, phát thải, hiệu quả sản xuất, công nghệ và ESG được chuẩn hóa, dữ liệu không chỉ phục vụ báo cáo mà còn có thể trở thành đầu vào cho các quyết định phân bổ vốn.
Mối quan hệ này tạo thành một vòng tuần hoàn. Dữ liệu tạo ra tri thức, tri thức thúc đẩy công nghệ, công nghệ nâng cao năng lực doanh nghiệp, năng lực doanh nghiệp tạo ra nhu cầu và khả năng hấp thụ vốn. Nguồn vốn tạo ra tác động kinh tế, xã hội và môi trường, từ đó tiếp tục hình thành những dữ liệu mới cho quá trình hoạch định chính sách.
Thách thức của Việt Nam trong giai đoạn tới vì vậy không chỉ nằm ở việc xây dựng nền kinh tế số, mà còn ở khả năng hình thành một hệ thống có thể học hỏi và điều chỉnh dựa trên dữ liệu.
Đây là quá trình chuyển từ quản lý dữ liệu sang quản trị bằng dữ liệu, xa hơn là sử dụng dữ liệu và tri thức để kiến tạo phát triển.

Kiến trúc sư trưởng, Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga tại Đại hội Đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển. Nguồn ảnh: Viện Quản trị Chính sách & Chiến lược Phát triển
Theo định hướng của Chiến lược Dữ liệu Quốc gia, đến năm 2045, 100% hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và điều hành của cơ quan Đảng, Nhà nước được hỗ trợ bởi dữ liệu. Tối thiểu 90% quyết định, chính sách quan trọng được xây dựng, đánh giá và dự báo trên cơ sở phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Cùng với đó, 100% dịch vụ công đủ điều kiện được cung cấp toàn trình trên môi trường điện tử, tối thiểu 90% dịch vụ công thiết yếu được cung cấp chủ động, tự động hoặc cá nhân hóa dựa trên dữ liệu. Việt Nam cũng đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 80% nền tảng, công nghệ và sản phẩm cốt lõi phục vụ quản trị, lưu trữ, xử lý, phân tích và bảo vệ dữ liệu, đồng thời tăng năng lực tự chủ về điện toán đám mây, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, hạ tầng AI, mô hình AI và an ninh dữ liệu.
Trong cấu trúc đó, Vòng tròn Chính sách được đặt trong mối liên hệ giữa khoa học, công nghệ, doanh nghiệp, tài chính và chính sách. Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở việc tạo thêm dữ liệu, mà ở khả năng biến dữ liệu thành tri thức, tri thức thành quyết định, rồi tiếp tục tạo ra dữ liệu mới cho chu trình phát triển./




